Tanin hay tannoit là một hợp chất polyphenol có trong thực vật có khả năng tạo liên kết bền vững với các protein và các hợp chất hữu cơ cao phân tử các như các amino axit và alkaloid. Bổ sung tanin cho tôm thẻ chân trắng hợp lý giúp tôm thẻ chân trắng tăng trưởng tốt hơn.

Vai trò của Tanin
Tanin là một hợp chất polyphenol hòa tan trong nước được tìm thấy trong thực vật, thực phẩm, đồ uống và chúng mang các hợp chất kháng khuẩn, chống oxy hóa và điều hòa miễn dịch. Tanin được phân thành hai loại lớn: tanin thủy phân và tanin ngưng tụ. Tác dụng kháng khuẩn và chống oxy hóa của tanin thủy phân mạnh hơn so với tanin ngưng tụ. Tanin có tiềm năng lớn như một chất thay thế cho kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, việc áp dụng tanin thủy phân làm phụ gia thức ăn cho tôm chưa được báo cáo.
Một nghiên cứu mới đây đã được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của tanin thủy phân khi bổ sung cho TTCT, đồng thời đánh giá tiềm năng sử dụng tanin ngưng tụ trong NTTS.
Thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 600 con tôm chia ngẫu nhiên thành 5 nhóm theo tỷ lệ bổ sung tanin thủy phân: F0: đối chứng; F0,5: 0,05% (g/thức ăn); F1: 0,1% (g/thức ăn); F1,5: 0,15% (g/thức ăn); F2: 0,2% (g/thức ăn).
Kết quả
Hiệu suất tăng trưởng
Kết quả trong nghiên cứu này cho thấy việc bổ sung tanin thủy phân trong chế độ ăn đã tối ưu hóa hiệu suất tăng trưởng (tốc độ tăng cân (WGR), tốc độ tăng trưởng cụ thể (SGR)) và tăng hoạt động của Trysin, từ đó tăng cường khả năng hấp thụ và cung cấp chất dinh dưỡng.
Hệ vi sinh đường ruột
Trong nghiên cứu này, việc bổ sung từ 0,05 – 0,15% tanin thủy phân trong chế độ ăn có thể làm giảm sự đa dạng của vi khuẩn trong ruột. Tuy nhiên, tác dụng có lợi của sinh thái ruột phụ thuộc vào sự phong phú hoặc hiện diện một số chi loài có ích trong cộng đồng vi khuẩn hơn là sự đa dạng.
Liều lượng tanin thủy phân cao hơn ảnh hưởng đến cộng đồng vi khuẩn trong ruột của thôm thẻ chân trắng bằng cách làm tăng sự phong phú của Firicute. Tanin thủy phân bổ sung trong khẩu phần ăn cũng cho thấy tác dụng mạnh mẽ trong việc hình thành hệ sinh vật đường ruột của TTCT.
Tỷ lệ sống
Sau 24 giờ, tỷ lệ sống (%) của nhóm F1 – F2 cao hơn đáng kể so với đối chứng. Tỷ lệ sống sót lần lượt là 40%, 47%, 63%, 30% và 63% ở các nhóm F0 – F2. Tỷ lệ sống sót tương đối cao nhất ở nhóm F1, 5 (80%), tiếp theo là nhóm F1 (63%) và F2 (63%).
Nguồn: Tạp chí thủy sản
